Đến chùa Bổ Đà (Bắc Giang) xem bộ kinh Phật cổ

“Bốn bề phong cảnh lạ thay / Bồng Lai kia cũng thế này mà thôi” là cảnh sắc chùa Quan Âm trong truyện thơ nôm khuyết danh Quan Âm Thị Kính mà theo tích xưa thì phong cảnh ở chùa Bổ Đà, nằm trên bờ Bắc sông Cầu, thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Tuy kiến trúc không đặc sắc như chùa Keo, chùa Thầy, chùa Tây Phương… nhưng ngôi chùa cổ có hàng trăm gian này rất đáng để thăm viếng. Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 1A đến Đình Trám rẽ phải vào Bích Động, qua xã Bích Sơn, Ninh Sơn chừng bảy cây số sẽ tới danh lam cổ tự này.

Bổ Đà là một núi lớn nằm ở bờ phía Bắc sông Cầu, trải dài chừng 2km bao bọc hai thôn Tiên Lát Thượng và Tiên Lát Hạ của xã Tiên Sơn. Trong núi Bổ Đà nổi lên nhiều ngọn lớn như ngọn đền Thượng, ngọn chùa Cao, ngọn chùa Khám, ngọn Phượng Hoàng, ngọn Trúc Lát, ngọn Con Voi và ngọn Bàn Cờ Tiên. Các ngọn núi này tiếp nối nhau, có độ cao khoảng 50 – 70m so với mực nước biển. Cả một quần thể đền chùa tụ tập nơi đây: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, chùa Tứ Ân, chùa Cao, chùa Khám, chùa Linh Chi, đình Lát Thượng, đình Lát Hạ, chùa Thạch Long, chùa Vân Sơn, đền Cam Vàng, đình Ngự… Chùa Bổ Đà có tên chính là chùa Quan Âm, được dân tin là nơi đức Quan Âm bồ tát ứng hiện cứu đời.

Tương truyền xưa có cặp vợ chồng tiều phu nghèo hiếm muộn con cái nên được Quan Thế Âm thương tình cứu giúp. Một ngày, người chồng đốn củi thông trên đỉnh núi thì bật ra 32 đồng tiền vàng, hỏi cao tăng thì mới biết đó là phép ứng hiện của Quan Âm bồ tát. Người tiều phu cầu khẩn rằng nếu sinh được con trai thì sẽ dựng chùa thờ. Điều ước được linh ứng, tiều phu bèn dựng chùa thờ Phật, người ta qua lại cầu linh hiển ứng nên gọi là chùa Quan Âm hay chùa ông Bổ, chùa Bổ Đà, chùa Thượng.

Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu thì Hương Tích – Hương Sơn là một đạo tràng Quán Thế Âm lớn nhất ở nước ta. Tại chùa Bổ Đà có câu thành ngữ: “Bắc Bổ Đà, Nam Hương Tích”, có nghĩa là ở phía Bắc có chùa Bổ Đà, phía Nam có chùa Hương Tích (Hà Tĩnh và Hà Nội). Đây là hai đạo tràng Quán Thế Âm vào hạng nhất, đăng đối theo trục Bắc – Nam, lấy Thăng Long là trung tâm. Bổ Đà là tên viết tắt của Bổ Đà Lạc Già đọc trại từ tiếng Phạn “Potalaka”, có nghĩa là ngọn núi nơi Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện để cứu độ chúng sinh.

Chùa được xây dựng ở chân núi Phượng Hoàng thời vua Lê Dụ Tông năm thứ nhất (1720), sau đó được trùng tu, mở mang ngày càng khang trang qua nhiều đời sư trụ trì. Cùng với chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà là trung tâm Phật giáo lớn của Bắc Giang thuộc thiền phái Trúc Lâm. Nơi đây có tượng thờ Trúc Lâm tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), vì thế tại đây các vị tổ sư khai trường thuyết pháp đào tạo nhiều tăng đồ. Chùa Bổ Đà còn là nơi sản xuất vũ khí của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp.

Chùa có diện tích chừng 5ha, chia thành nội tự, vườn chùa, vườn tháp. Khu vườn chùa sum xuê hoa quả bốn mùa, đủ nhãn, vải thiều, mít, thị, sấu, chuối, na, sắn, đỗ tương. Xung quanh chùa là hào sâu, rộng để tránh trâu bò, vừa để thoát nước. Sau hào là một lớp tre dày đặc bảo vệ chùa. Ngăn giữa vườn và chùa là lớp tường đất cao gần hai mét, dày chừng nửa mét. Đất sét được trộn với rơm rạ, sỏi đá, cho vào khuôn gỗ dày mà giã nhuyễn tới khi khô thì mới dỡ khuôn, để lộ ra những bức tường màu vàng dày, vững chắc, cao ráo, gọi là trình tường.

Đây cũng là nét riêng của chùa Bổ Đà so với nhiều danh lam cổ tự khác. Khu vườn tháp cũng được xây tường đất và kè đá bao quanh bảo vệ. Có cả thảy 87 tháp, chưa kể 18 mộ không xây tháp với nhiều kiểu khác nhau.

Đi qua ba lớp cổng chùa xinh xắn trên con đường lát đá xanh, qua một sân gạch nữa thì đến khu nội tự, gồm hàng chục dãy nhà, tòa nhà lớn nhỏ kiến trúc thời Hậu Lê – Nguyễn là nhà tam bảo, nhà tổ, nhà tiền tế, nhà in kinh, nhà trai, nhà khách… Điểm đặc biệt ở đây là nhiều bức tường được xây bằng tiểu sành giống như làng Thổ Hà, nơi chuyên sản xuất chum vại, tiểu sành cách đó vài cây số.

Chùa giữ được nhiều tài liệu, hiện vật quý hiếm. Ngoài hệ thống tượng Phật theo thiền phái Trúc Lâm, còn có văn khắc, thư tịch cổ, đại tự, câu đối, sách kinh Phật, hương án Lê Nguyễn (tòa Cửu Long, hai cây đèn gỗ thời Lê, chuông đồng niên hiệu Tự Đức, mõ cá dài…). Hội chùa diễn ra từ 16 – 18 tháng Hai Âm lịch hàng năm. Tất cả đền chùa trong khu vực núi Bổ Đà đều cắm cờ phướn rực rỡ. Trung tâm của lễ hội là đền Trung ở sườn Nam, đền Thượng trên đỉnh núi, chùa Quan Âm phía Bắc và chùa Tứ Ân ở chân núi Phượng Hoàng.

Điều đặc biệt nhất không ai bỏ qua khi đến thăm chùa này là vào kho xem bộ kinh Phật cổ khắc trên gỗ. Theo nhiều tài liệu thì đây là bộ kinh cổ nhất Việt Nam còn lưu giữ được qua bao năm thiên tai, địch họa.

Bộ kinh được xếp trên tám chiếc giá, mỗi giá có bốn tập sách kinh, hợp thành từ 240 tấm ván gỗ. Đếm ra tất cả gần 2.000 tấm. Trước đây, một số người đến xem bộ kinh này do hiếu kỳ đã lấy đi một vài tấm ván kinh nên một số tấm kinh phải làm lại để điền cho đủ. Mỗi tấm gỗ dùng để khắc kinh dài trung bình 50cm, rộng 25cm và dày khoảng 2,5cm.

Nếu muốn xem đồng loạt toàn bộ kho kinh cổ ở đây thì phải có khoảng đất rộng chừng 300m2 để trải các tấm ván kinh ra. Bộ kinh được khắc trên gỗ thị, một loại cây mọc phổ biến ở vùng rừng núi này. Gỗ thị không những bền mà còn rất nhẹ, thuận lợi để khắc cũng như vận chuyển kinh.

Trải qua 247 năm, đến nay bộ kinh vẫn còn khá nguyên vẹn. Những tấm gỗ thị dùng để khắc kinh đều bền, đẹp, không bị mối mọt, dù chẳng cần dùng loại thuốc bảo quản nào. Kinh được khắc nổi bằng chữ Hán, nét chữ tinh xảo, đến nay vẫn còn rất sắc, rõ.

Bộ kinh được hình thành từ ý tưởng của các vị tổ sư, đồng thời cũng là những người xây dựng ngôi chùa này để truyền dạy đạo Phật. Nó xứng đáng là một di vật Phật học đặc biệt để lại cho đời sau. Bộ kinh đề cập đến những đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa khi được truyền vào Việt Nam theo ba tông phái là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông.

Bộ kinh còn nói đến cõi niết bàn, vòng luân hồi chuyển kiếp của một đời người, giải thích thế nào là sự tu nhân tích đức, cõi vô vi…, thể hiện những tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là dòng Phật giáo thiền phái Trúc Lâm tam tổ. Phái Trúc Lâm sau đó được Pháp Loa và Huyền Quang phát triển, cực thịnh ở nước ta hồi thế kỷ thứ XIV-XV, trong đó vùng rừng núi Bổ Đà ngày nay là một trong những nơi ảnh hưởng sâu đậm…

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Uncategorized và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s